Tường 10 và tường 20 là gì? Cách chọn độ dày tường phù hợp cho từng vị trí trong nhà

    Tường 10 và tường 20 là gì? Cách chọn độ dày tường phù hợp cho từng vị trí trong nhà

    Cập nhật ngày 22/06/2026, lúc 15:0023.382 lượt xem
    Mục lục

    Tường 10 và tường 20 là cách gọi quen thuộc để phân biệt các nhóm tường xây có chiều dày khác nhau trong nhà ở. Tường mỏng thường giúp tiết kiệm diện tích và giảm tải trọng, trong khi tường dày có thể mang lại lợi thế về độ ổn định, cách âm và khả năng bao che trong cùng điều kiện vật liệu, cấu tạo. Tuy nhiên, không có quy tắc rằng nhà một tầng phải xây tường 10 hay nhà nhiều tầng bắt buộc phải xây tường 20.

    Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu tường 10 và tường 20 là gì, ưu nhược điểm của từng loại và cách lựa chọn phù hợp cho từng vị trí trong nhà.

    Tường 10 và tường 20 là gì?

    “Tường 10” và “tường 20” là cách gọi phổ biến trên công trường để phân biệt các nhóm tường theo bề dày danh nghĩa. Trong thực tế, chiều dày đo được có thể khác nhau tùy kích thước viên xây, cách bố trí viên xây, chiều dày mạch vữa và các lớp hoàn thiện.

    Vì vậy, không nên hiểu tường 10 luôn phải đo đúng 100 mm hoặc tường 20 luôn phải đo đúng 200 mm sau khi hoàn thiện. Khi thi công, kích thước cần được xác định theo loại vật liệu và hồ sơ thiết kế của công trình.

    Trong nhà ở, tường có thể đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau như ngăn phòng, bao che bên ngoài, hỗ trợ cách âm, hạn chế tác động của thời tiết hoặc tham gia chịu lực nếu được thiết kế cho chức năng đó.

    Điểm quan trọng là chiều dày không tự quyết định một bức tường có chịu lực hay không. Theo TCVN 5573:2011, việc phân loại tường chịu lực, tường tự chịu lực, tường không chịu lực hay vách ngăn liên quan đến tải trọng mà cấu kiện phải tiếp nhận và truyền đi.

    Tường 10 và tường 20 là cách gọi quy ước trong xây dựng để chỉ tường có bề dày danh nghĩa khoảng 10 cm và 20 cm; chiều dày thực tế sau hoàn thiện có thể thay đổi tùy loại gạch, mạch vữa và lớp trát.

    So sánh nhanh tường 10 và tường 20

    Tiêu chí

    Tường 10

    Tường 20

    Bề dày

    Nhóm tường khoảng 10 cm

    Nhóm tường khoảng 20 cm

    Diện tích chiếm chỗ

    Ít hơn

    Nhiều hơn

    Trọng lượng

    Thường nhẹ hơn

    Thường nặng hơn

    Vật tư

    Thường ít hơn

    Thường nhiều hơn

    Cách âm

    Thường thấp hơn nếu cùng vật liệu, cấu tạo

    Thường tốt hơn nếu cùng vật liệu, cấu tạo

    Ổn định ngoài mặt phẳng

    Thường thấp hơn

    Thường có lợi thế hơn

    Vị trí thường cân nhắc

    Vách ngăn trong nhà

    Tường ngoài hoặc vị trí cần tăng hiệu quả bao che

    Khả năng chống nóng

    Không nên đánh giá chỉ bằng chiều dày

    Có thể làm chậm truyền nhiệt hơn nhưng vẫn cần giải pháp chống nóng tổng thể

    Nhà phố

    Thường dùng cho nhiều vách ngăn

    Có thể dùng có chọn lọc cho mặt ngoài và vị trí cần thiết

    Trong nhà khung bê tông cốt thép, phương án hợp lý thường là kết hợp tường 10, tường 20 hoặc vách nhẹ theo từng vị trí, thay vì chọn một loại tường cho toàn bộ ngôi nhà.

    Tường 10 là gì?

    Tường 10 là cách gọi quen thuộc của nhóm tường xây có bề dày danh nghĩa khoảng 10 cm. Trong nhà ở khung bê tông cốt thép, loại tường này thường được sử dụng cho các vách ngăn không đảm nhiệm vai trò chịu lực chính hoặc những vị trí cần hạn chế diện tích bị tường chiếm chỗ.

    Chiều dày thực tế không nên được xác định chỉ từ tên gọi “tường 10”. Kích thước còn phụ thuộc loại gạch hoặc viên xây, cách xây, mạch vữa và lớp trát, ốp hoàn thiện. Vì vậy, khi đọc bản vẽ hoặc nghiệm thu công trình, cần kiểm tra kích thước được ghi là chiều dày phần xây hay chiều dày sau hoàn thiện.

    Tường 10 là cách gọi quy ước của tường xây có bề dày danh nghĩa khoảng 10 cm, thường dùng để ngăn chia không gian; chiều dày thực tế sau hoàn thiện có thể dao động tùy loại gạch, mạch vữa và lớp trát.

    Tường 10 thường dùng ở đâu?

    Trong nhà có hệ khung bê tông cốt thép, tường 10 thường được chọn cho các vách không chịu lực chính và không tiếp xúc quá nhiều với thời tiết.

    Các vị trí phổ biến gồm:

    • Tường ngăn phòng ngủ.

    • Tường ngăn phòng làm việc.

    • Tường chia hành lang.

    • Một số tường bao ở mặt giáp công trình liền kề.

    • Tường khu vực ít chịu mưa tạt.

    • Tường ngăn nhẹ tại tầng trên.

    • Các không gian cần tiết kiệm diện tích.

    Tuy nhiên, việc sử dụng còn phụ thuộc chiều cao mảng tường, chiều dài không có điểm giữ, vị trí cửa, yêu cầu treo thiết bị và giải pháp liên kết với cột, dầm.

    Tường 10 thường dùng cho vách ngăn không chịu lực, khu vực ít chịu tác động thời tiết và những không gian cần tiết kiệm diện tích.

    Ưu điểm của tường 10

    So với một bức tường dày hơn được xây bằng cùng nhóm vật liệu, tường 10 thường sử dụng ít vật tư, có trọng lượng thấp hơn và chiếm ít diện tích mặt bằng hơn. Đây là lợi thế đáng kể đối với nhà phố, nhà ống hoặc những không gian có kích thước hạn chế.

    Tường 10 vì thế thường phù hợp với các vách ngăn phòng ngủ, phòng làm việc, hành lang và những khu vực không yêu cầu khả năng bao che hoặc cách âm quá cao.

    Nhược điểm của tường 10

    Khi so sánh trong điều kiện tương đương về vật liệu và chất lượng thi công, tường mỏng thường có độ cứng ngoài mặt phẳng và khả năng cản âm thấp hơn tường dày. Việc cắt rãnh kỹ thuật, treo thiết bị nặng hoặc tạo các mảng tường cao, dài cũng cần được kiểm soát kỹ hơn.

    Tuy nhiên, tường 10 không mặc nhiên dễ nứt, thấm hoặc kém bền. Những vấn đề này còn phụ thuộc vào nền móng, biến dạng của kết cấu, liên kết với cột và dầm, mạch xây, lớp trát, chống thấm và chất lượng thi công.

    Tường 10 có ưu điểm nhẹ, tiết kiệm vật liệu và diện tích nhưng hạn chế hơn về độ cứng, cách âm và khả năng treo tải nặng, nên cần thi công đúng kỹ thuật.

    >>> Xem thêm: Xây nhà 3 tầng bằng tường 10 có an toàn không?

    Tường 20 là gì?

    Tường 20 là cách gọi quen thuộc của nhóm tường xây có bề dày danh nghĩa khoảng 20 cm. Tùy loại viên xây và cấu tạo, tường có thể được tạo bằng nhiều cách khác nhau thay vì chỉ có một phương án xếp hai hàng gạch.

    So với tường 10 cùng nhóm vật liệu, tường 20 thường nặng hơn và chiếm nhiều diện tích hơn nhưng có thể mang lại lợi thế về độ ổn định, khả năng cản âm và hiệu quả bao che.

    Tường 20 là cách gọi quy ước của tường xây có bề dày danh nghĩa khoảng 20 cm; chiều dày thực tế có thể thay đổi tùy loại gạch, mạch vữa và lớp trát.

    Tường 20 thường dùng ở đâu?

    Tường 20 thường được cân nhắc tại những vị trí cần độ ổn định hoặc khả năng bao che tốt hơn.

    Ví dụ:

    • Mặt tiền tiếp xúc với đường phố.

    • Tường ngoài hướng Tây hoặc hướng chịu nắng mạnh.

    • Tường ngoài không được nhà bên cạnh che chắn.

    • Tường tầng trệt cần tăng mức độ bảo vệ.

    • Tường ngăn giữa hai khu vực yêu cầu riêng tư cao.

    • Tường quanh phòng máy hoặc khu vực có tiếng ồn.

    • Tường biệt thự, nhà vườn tiếp xúc trực tiếp với thời tiết.

    • Một số tường có vai trò kết cấu theo hồ sơ thiết kế.

    Ưu điểm của tường 20

    Trong cùng điều kiện vật liệu và thi công, việc tăng chiều dày thường giúp tăng khối lượng trên một đơn vị diện tích tường và có thể cải thiện khả năng cản âm cũng như độ ổn định của mảng xây.

    Vì vậy, tường 20 thường được cân nhắc tại mặt ngoài công trình, khu vực chịu tác động thời tiết hoặc những vị trí cần mức độ riêng tư cao hơn.

    Tuy nhiên, không nên đồng nhất “tường 20” với “tường chống nóng”. Khả năng truyền nhiệt còn phụ thuộc loại gạch, độ rỗng, lớp cách nhiệt, hướng nắng, màu bề mặt, hệ che nắng và toàn bộ cấu tạo vỏ công trình.

    >>> Xem thêm: Xây tường 20 để chống nóng hướng Tây có ổn không?

    Nhược điểm của tường 20

    Tường 20 thường cần nhiều vật liệu hơn, làm tăng trọng lượng khối xây và chiếm thêm diện tích sử dụng. Đối với nhà phố ngang 4–5 m, nếu sử dụng tường dày không cần thiết ở nhiều vị trí, diện tích phòng, hành lang hoặc khu vệ sinh có thể giảm đáng kể.

    Do đó, tường 20 nên được bố trí theo yêu cầu thực tế của từng vị trí và phải được tính đến trong phương án kết cấu ngay từ giai đoạn thiết kế.

    Tường 20 thường được dùng cho tường ngoài hoặc các vị trí cần tăng khả năng cách âm, chống nóng và độ ổn định của công trình.

    Tường 20 có phải là tường chịu lực không?

    Không thể xác định một bức tường có chịu lực hay không chỉ dựa vào tên gọi tường 10, tường 20 hay một con số chiều dày khác.

    Theo TCVN 5573:2011 về thiết kế kết cấu gạch đá và gạch đá cốt thép, tường chịu lực là tường ngoài việc chịu trọng lượng bản thân và tải trọng gió còn tiếp nhận tải trọng truyền từ sàn, mái hoặc các bộ phận khác. Tiêu chuẩn cũng phân biệt tường tự chịu lực, tường không chịu lực và vách ngăn dựa trên nhiệm vụ chịu tải của từng cấu kiện.

    Do đó, tường dày khoảng 20 cm vẫn có thể tham gia chịu lực nếu được thiết kế trong hệ kết cấu khối xây. Ngược lại, một bức tường dày không tự động trở thành tường chịu lực nếu chức năng của nó chỉ là bao che hoặc ngăn chia.

    Khả năng chịu lực của tường còn liên quan đến loại và cường độ viên xây, vữa, chiều cao, chiều dài mảng tường, lỗ cửa, điều kiện liên kết, tải trọng và nền móng. Vì vậy, không có quy tắc chung rằng “chỉ tường 330 mm mới chịu lực”.

    Tường 20 có thể là tường chịu lực hoặc không chịu lực tùy thiết kế kết cấu; chiều dày không phải căn cứ duy nhất để xác định chức năng chịu lực của tường.

    Nếu bạn đang chuẩn bị xây mới hoặc cải tạo nhà nhưng chưa biết nên bố trí tường 10, tường 20 hay vách nhẹ ở từng vị trí, hãy để lại thông tin trong box cuối bài. Happynest sẽ giúp bạn kết nối với kiến trúc sư hoặc đơn vị thiết kế – thi công phù hợp với nhu cầu và điều kiện công trình

    >>> Xem thêm: Bạn chưa biết bắt đầu xây nhà từ đâu? Đăng ký ngay để được tư vấn miễn phí

    Nhà phố nên xây tường 10 hay tường 20?

    Nhà phố thường không cần chọn duy nhất tường 10 hoặc tường 20 cho toàn bộ công trình. Phương án hợp lý hơn là xác định chiều dày theo chức năng của từng bức tường, đồng thời tính đến loại gạch, hệ kết cấu, hướng nắng, tiếng ồn, khả năng chống thấm và diện tích sử dụng.

    Có thể tham khảo định hướng ban đầu như sau:

    Vị trí

    Phương án thường cân nhắc

    Lý do

    Vách ngăn phòng ngủ, phòng làm việc

    Tường 10 hoặc vách nhẹ

    Tiết kiệm diện tích và giảm tải

    Tường mặt tiền

    Tường 20 hoặc hệ bao che phù hợp

    Cần cân nhắc tiếng ồn, nắng, mưa và an ninh

    Tường hướng Tây

    Tường dày hoặc hệ tường cách nhiệt

    Cần kiểm soát truyền nhiệt và bức xạ mặt trời

    Tường giáp nhà liền kề

    Theo hiện trạng và thiết kế

    Liên quan chống thấm, cách âm, ranh đất và khe giữa hai nhà

    Tường cần cách âm cao

    Cấu tạo cách âm riêng

    Chỉ tăng chiều dày chưa chắc đủ

    Tường treo tủ, thiết bị

    Theo vật liệu và phương án neo

    Khả năng treo không chỉ phụ thuộc chiều dày

    Tường trên sàn

    Theo thiết kế kết cấu

    Cần kiểm soát tải trọng

    Phòng máy, phòng giải trí

    Cấu tạo chuyên dụng

    Có yêu cầu riêng về âm thanh, rung hoặc kỹ thuật

    Bảng trên chỉ mang tính định hướng. Chiều dày cuối cùng cần được thể hiện trong hồ sơ thiết kế phù hợp với vật liệu và kết cấu thực tế của công trình.

    Tường mặt tiền nên xây loại nào?

    Mặt tiền thường tiếp xúc với tiếng xe, bụi, mưa tạt và nguy cơ tác động từ bên ngoài. Vì vậy, nhiều công trình ưu tiên tường 20 hoặc một hệ tường có hiệu quả cách âm, chống nóng tương đương.

    Tuy nhiên, nếu mặt tiền có nhiều cửa kính, hiệu quả cách âm không chỉ phụ thuộc tường. Cửa, khe lắp đặt, hộp kỹ thuật và lỗ thông gió có thể trở thành những điểm truyền âm chính.

    Tường mặt tiền nên được cân nhắc cùng với:

    • Hệ cửa.

    • Mái đua hoặc ban công.

    • Lam che nắng.

    • Lớp chống thấm.

    • Giải pháp cách âm.

    • Hướng nắng.

    • Hình thức mặt đứng.

    • Tải trọng kết cấu.

    Nhà phố nên kết hợp cả tường 10 và tường 20 theo từng vị trí; trong đó tường mặt tiền thường ưu tiên tường 20 hoặc giải pháp có khả năng cách âm, chống nóng tương đương.

    Với tường mặt tiền, không nên chỉ đặt câu hỏi “xây tường 10 hay tường 20” mà cần đánh giá toàn bộ hệ bao che gồm vật liệu tường, cửa, khe lắp đặt, che nắng, chống thấm và yêu cầu cách âm. Tường dày hơn có thể là một lựa chọn, nhưng không phải giải pháp duy nhất.

    Tường giáp nhà liền kề nên xây loại nào?

    Hai bức tường 10 thuộc hai công trình riêng biệt không tự động hoạt động giống một tường 20 thống nhất. Giữa chúng có thể tồn tại khe hở, bề mặt không liên kết và nguy cơ thấm từ phía không tiếp cận được.

    Tường giáp ranh cần được lựa chọn dựa trên:

    • Nhà bên cạnh đã xây hay chưa.

    • Có khe tách công trình hay không.

    • Khả năng tiếp cận để trát và chống thấm.

    • Yêu cầu cách âm giữa hai nhà.

    • Quyền sở hữu và ranh đất.

    • Biện pháp thi công móng.

    • Phương án khi công trình bên cạnh tháo dỡ.

    • Yêu cầu an toàn cháy.

    Nếu hai bên đã có tường riêng và khoảng đất rất hạn chế, tường 10 có thể được sử dụng theo thiết kế. Nếu một bên đang trống hoặc mặt tường có thể trở thành tường ngoài trong tương lai, cần tính đến khả năng chống thấm và bao che lâu dài.

    Tường giáp nhà liền kề nên chọn theo hiện trạng công trình, khe tách, chống thấm, cách âm, ranh đất và khả năng trở thành tường ngoài trong tương lai.

    Tường ngăn phòng nên xây loại nào?

    Tường 10 thường đủ dùng cho phòng ngủ, phòng làm việc và các khu vực sinh hoạt thông thường trong nhà khung bê tông cốt thép. Tuy nhiên, những vị trí cần riêng tư hoặc cách âm cao hơn có thể dùng tường dày, tường đôi, vách nhiều lớp hoặc cấu tạo chuyên dụng.

    Ví dụ:

    • Giữa phòng ngủ và phòng khách: có thể dùng tường 10 nếu nhu cầu cách âm thông thường.

    • Giữa phòng ngủ và cầu thang: cân nhắc tăng cách âm.

    • Phòng karaoke hoặc phòng máy: cần cấu tạo cách âm riêng, không chỉ tăng chiều dày gạch.

    • Tường treo tủ bếp: cần tính vị trí neo, chất lượng viên xây và giằng.

    • Tường quanh hộp kỹ thuật: cần dễ bảo trì và đáp ứng yêu cầu cháy, âm thanh nếu có.

    Tường ngăn phòng thường sử dụng tường 10 trong nhà khung bê tông cốt thép, còn những khu vực cần cách âm hoặc chịu tải treo lớn có thể cần giải pháp tường dày hoặc cấu tạo chuyên dụng hơn.

    Tường hướng Tây nên xây loại nào?

    Với cùng vật liệu và cấu tạo tương tự, tăng chiều dày tường thường làm tăng nhiệt trở và đồng thời tăng khối lượng nhiệt. Tuy nhiên, mức độ nóng bên trong còn phụ thuộc mạnh vào bức xạ mặt trời, lớp hoàn thiện, che nắng, cửa kính, cầu nhiệt và khả năng thông gió.

    Tường dày có thể tích nhiệt vào ban ngày và tiếp tục tỏa nhiệt vào buổi tối. Với mặt hướng Tây, nên kết hợp:

    • Tường hai lớp có khe không khí.

    • Gạch có đặc tính cách nhiệt.

    • Vật liệu cách nhiệt.

    • Mặt đứng hai lớp.

    • Lam hoặc mái che nắng.

    • Ban công.

    • Cây xanh.

    • Màu hoàn thiện sáng.

    • Thông gió cho lớp đệm.

    Không nên tăng chiều dày tường một cách tùy ý nếu chưa kiểm tra tải trọng và diện tích.

    Tường hướng Tây thường ưu tiên tường 20 hoặc các giải pháp cách nhiệt phù hợp, nhưng hiệu quả chống nóng sẽ tốt hơn khi kết hợp với vật liệu cách nhiệt, lam che nắng và thông gió.

    Nhà ống nên xây tường 10 hay tường 20?

    Nhà ống có chiều ngang nhỏ nên rất nhạy cảm với phần diện tích bị tường chiếm. Vì vậy, tường 10 thường được ưu tiên cho vách ngăn bên trong, còn tường 20 được bố trí có chọn lọc ở những mặt tiếp xúc nhiều với môi trường.

    Đối với nhà ống, cần kiểm soát đặc biệt các khe tiếp giáp giữa tường và khung bê tông. Đây là vị trí dễ nứt nếu vật liệu co ngót khác nhau hoặc không có biện pháp liên kết phù hợp.

    Nhà ống nên ưu tiên tường 10 cho vách ngăn và bố trí tường 20 có chọn lọc ở mặt ngoài, đồng thời xử lý tốt khe tiếp giáp để hạn chế nứt.

    Nhà cấp 4 nên xây tường 10 hay tường 20?

    Không thể kết luận nhà cấp 4 luôn chỉ cần tường 10 vì công trình chỉ có một tầng. Loại tường còn phụ thuộc hệ kết cấu và vị trí xây dựng.

    Nhà cấp 4 khung bê tông cốt thép

    Nếu nhà có hệ cột, dầm hoặc giằng bê tông cốt thép chịu tải chính, tường 10 có thể dùng cho nhiều vách ngăn. Tường ngoài vẫn nên được thiết kế theo yêu cầu bao che, chống nóng, mưa tạt và an ninh.

    Nhà cấp 4 sử dụng tường chịu lực

    Nếu tường tham gia đỡ mái hoặc truyền tải trọng xuống móng, chiều dày và cấu tạo phải được kỹ sư tính toán. Không được tự lựa chọn bằng kinh nghiệm rằng cứ tường 20 hoặc 330 mm là đủ an toàn.

    Nhà cấp 4 độc lập ở vùng nông thôn

    Nhà không được các công trình bên cạnh che chắn thường chịu nắng, mưa và gió trực tiếp ở nhiều mặt. Tường ngoài dày hoặc cấu tạo hai lớp có thể mang lại hiệu quả sử dụng tốt hơn.

    Nhà cấp 4 nên chọn tường 10 hay tường 20 dựa vào hệ kết cấu, vị trí tường và điều kiện môi trường thay vì chỉ dựa vào số tầng.

    Nhà khung bê tông cốt thép có cần tường chịu lực không?

    Trong nhà sử dụng hệ khung bê tông cốt thép, tải trọng chính thường được truyền qua sàn, dầm và cột xuống móng, còn phần lớn tường xây đảm nhiệm chức năng bao che hoặc ngăn chia.

    Điều đó không có nghĩa tường có thể được thay đổi tùy ý. Trọng lượng của khối xây vẫn là tải trọng tác động lên dầm, sàn và móng, nên vị trí, vật liệu và chiều dày tường cần được tính đến trong thiết kế kết cấu.

    TCVN 4085:2011 cũng yêu cầu công tác thi công kết cấu gạch đá phải phù hợp với thiết kế và không được tùy tiện tạo lỗ, hộc hoặc các vị trí làm suy yếu kết cấu khi không có chỉ dẫn thiết kế.

    Vì vậy, không nên tự ý đổi tường 10 thành tường 20, thay vách nhẹ bằng tường gạch hoặc di chuyển vị trí tường sau khi hệ kết cấu đã được thiết kế mà chưa kiểm tra với người có chuyên môn.

    Nhà khung bê tông cốt thép thường không dùng tường làm kết cấu chịu lực chính, nhưng mọi thay đổi về vị trí, vật liệu và chiều dày tường vẫn cần được kiểm tra theo thiết kế kết cấu.

    Nhà 2 tầng nên xây tường 10 hay tường 20?

    Nhà hai tầng khung bê tông cốt thép thường có thể kết hợp cả hai loại tường:

    • Tường ngăn bên trong dùng tường 10.

    • Mặt ngoài chịu thời tiết dùng tường 20 hoặc cấu tạo tương đương.

    • Tường giáp ranh lựa chọn theo điều kiện hiện trạng.

    • Tường cần cách âm cao sử dụng cấu tạo riêng.

    • Tường đặt trên sàn phải đúng vị trí đã tính tải.

    Ở các tầng trên, nhiều gia chủ muốn giảm chiều dày tường để hạn chế tải trọng và tiết kiệm diện tích. Tuy nhiên, không nên vì mục tiêu này mà mặc định mọi tường tầng hai đều phải dùng tường 10.

    Số tầng không phải tiêu chí duy nhất. Điều quan trọng hơn là tường đó nằm ở đâu, có chịu tải không, chiều cao bao nhiêu và chịu tác động gì.

    Nhà 2 tầng nên kết hợp tường 10 và tường 20 tùy vị trí, khả năng chịu tải, chiều cao và yêu cầu sử dụng của từng bức tường.

    Nhà 3 tầng nên xây tường 10 hay tường 20?

    Với nhà ba tầng, trọng lượng khối xây ảnh hưởng rõ hơn đến hệ móng và kết cấu. Nếu toàn bộ tường đều xây dày và bằng gạch nặng, tải trọng cộng dồn có thể lớn.

    Phương án thường gặp là:

    • Tường ngoài tầng dưới dùng cấu tạo chắc chắn hơn.

    • Tường ngăn các tầng dùng tường 10 hoặc vật liệu nhẹ.

    • Tường ở mặt hướng nắng, mưa được tăng cường chống nóng và chống thấm.

    • Vị trí cần cách âm sử dụng cấu tạo nhiều lớp.

    • Mọi tường đặt trên sàn hoặc dầm phải đúng bản vẽ.

    Không nên áp dụng công thức “tầng một xây tường 20, các tầng trên xây tường 10” cho mọi ngôi nhà. Đây chỉ có thể là một định hướng sơ bộ và phải được kiểm tra bằng phương án kết cấu cụ thể.

    Nhà 3 tầng thường nên kết hợp tường 10 và tường 20 theo từng vị trí để cân bằng tải trọng, công năng và khả năng bao che, thay vì sử dụng một loại tường cho toàn bộ công trình.

    >>> Xem thêm: Tường cao bao nhiêu thì cần giằng tường? Tiêu chuẩn giằng tường nhà dân dụng cần biết trước khi xây

    Tầng 2 nên xây tường 10 hay tường 20?

    Những câu hỏi thường gặp như “tầng 2 nên xây tường 10 hay 20” thường xuất phát từ mong muốn giảm tải cho công trình. Tường 10 đúng là nhẹ hơn, nhưng việc lựa chọn vẫn cần xét theo từng mặt tường.

    Tầng hai có thể dùng:

    • Tường 10 cho vách ngăn phòng.

    • Tường 20 cho mặt ngoài cần cách âm hoặc bao che tốt hơn.

    • Vách nhẹ cho các phòng cần linh hoạt.

    • Hệ tường hai lớp nhẹ nếu cần cách âm mà không muốn tăng quá nhiều tải trọng.

    Gia chủ không nên đổi từ tường 10 sang tường 20 sau khi kết cấu đã thi công mà chưa hỏi kỹ sư, nhất là khi tường đặt giữa nhịp sàn.

    Tường quanh bể phốt nên xây tường 10 hay tường 20?

    Câu hỏi “bể phốt xây tường 10 hay 20” cần được tách khỏi câu hỏi về tường nhà thông thường.

    Thành bể tự hoại, thường được gọi là bể phốt, không nên lựa chọn đơn giản theo kinh nghiệm “xây tường 10 hay tường 20”. Đây là bộ phận chứa nước thải và có thể chịu tác động của đất, nước ngầm, tải trọng phía trên cũng như yêu cầu chống thấm trong quá trình sử dụng.

    Cấu tạo thành bể cần được xác định cùng với kích thước và chiều sâu bể, điều kiện nền đất, mực nước ngầm, vật liệu sử dụng, tải trọng phía trên, cấu tạo đáy và nắp bể.

    Nếu sử dụng khối xây, chiều dày thành, giằng và giải pháp chống thấm cần được thể hiện trong thiết kế. Với bể bằng bê tông cốt thép, chiều dày và cốt thép cũng phải được xác định theo phương án kết cấu tương ứng.

    Vì vậy, không nên tự giảm chiều dày thành bể chỉ để tiết kiệm vật liệu hoặc áp dụng một cấu tạo từ công trình khác khi điều kiện nền đất và tải trọng không giống nhau.

    Thành bể tự hoại cần được thiết kế theo kích thước bể, nền đất, tải trọng và yêu cầu chống thấm thay vì chỉ lựa chọn theo cách gọi tường 10 hay tường 20.

    Tường 15 là gì và có nên xây tường 15 hay tường 20?

    “Tường 15” không phổ biến bằng tường 10 và tường 20, nhưng có thể xuất hiện khi sử dụng gạch hoặc blốc có bề dày khoảng 150 mm. Đây không phải một cấu tạo duy nhất.

    Tường 15 có thể tạo điểm cân bằng giữa:

    • Diện tích chiếm chỗ.

    • Trọng lượng.

    • Độ ổn định.

    • Cách âm.

    • Khả năng đi đường kỹ thuật.

    Tuy nhiên, việc lựa chọn phải dựa trên hệ sản phẩm cụ thể. Không nên chỉ yêu cầu thợ “xây tường 15” mà không chỉ rõ loại gạch, chiều dày mạch, lớp trát và cấu tạo liên kết.

    Tường 15 là cách gọi quy ước của tường xây có bề dày danh nghĩa khoảng 15 cm, phù hợp khi cần cân bằng giữa diện tích sử dụng và độ ổn định; việc lựa chọn tường 15 hay tường 20 cần dựa trên loại vật liệu và thiết kế của công trình.

    Xây tường 10 có bị thấm không?

    Tường 10 có thể bị thấm, nhưng tường 20 cũng có thể bị thấm nếu thi công và bảo vệ không tốt. Chiều dày chỉ là một yếu tố.

    Các nguyên nhân thấm phổ biến gồm:

    • Mạch xây không đầy.

    • Vữa trát rỗng hoặc nứt.

    • Tường không được trát phía ngoài.

    • Không có mái che hoặc gờ nhỏ nước.

    • Nứt tại tiếp giáp cột và dầm.

    • Nước thấm từ sân thượng, mái hoặc nhà bên cạnh.

    • Ống kỹ thuật rò rỉ.

    • Khe giữa hai nhà giữ nước.

    • Lớp sơn bảo vệ xuống cấp.

    • Chân tường hút ẩm từ nền.

    Để hạn chế thấm cho tường 10, cần xử lý đồng bộ:

    • Xây đúng mạch và đúng loại vữa.

    • Liên kết tường với cột, dầm theo thiết kế.

    • Gia cường tại vị trí cửa và đường điện nước.

    • Trát kín bề mặt tiếp xúc thời tiết.

    • Xử lý chân tường và khe tiếp giáp.

    • Tạo mái che hoặc giải pháp hạn chế mưa tạt.

    • Kiểm tra đường thoát nước.

    • Bảo trì lớp sơn và khe nứt định kỳ.

    Tường 10 không mặc nhiên dễ bị thấm; khả năng chống thấm phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng thi công, chống thấm và bảo trì hơn là chỉ do chiều dày của tường.

    Tường 10 có dễ nứt không?

    Tường mỏng có độ cứng thấp hơn nên nhạy cảm hơn với rung động và biến dạng của khung. Tuy nhiên, nứt không phải hậu quả tất yếu của việc xây tường 10.

    Nứt có thể xuất phát từ:

    • Móng lún không đều.

    • Dầm hoặc sàn võng.

    • Co ngót bê tông và vữa.

    • Liên kết tường với cột không phù hợp.

    • Xây tường quá sớm sau khi tháo cốp pha.

    • Không có lanh tô đúng cấu tạo.

    • Cắt rãnh điện nước quá sâu.

    • Mảng tường dài, cao nhưng thiếu giằng.

    • Vật liệu không đồng đều.

    • Bảo dưỡng kém.

    Tường 10 có thể dễ nứt hơn tường 20 nếu thi công hoặc liên kết không đúng, nhưng nguyên nhân nứt chủ yếu vẫn đến từ kết cấu, nền móng và chất lượng thi công chứ không chỉ do chiều dày tường.

    Nhà bên cạnh đào móng có làm nhà xây tường 10 bị nứt hoặc sập không?

    Việc công trình bên cạnh đào móng có thể gây nứt, lún hoặc mất ổn định cho nhà hiện hữu nếu hố đào ảnh hưởng đến nền đất và móng cũ. Tuy nhiên, rủi ro này không thể được đánh giá chỉ dựa vào việc ngôi nhà đang xây tường 10 hay tường 20.

    Các yếu tố quan trọng hơn gồm độ sâu hố đào, loại móng của nhà hiện hữu, khoảng cách giữa hai công trình, điều kiện địa chất, mực nước ngầm và biện pháp chống đỡ thành hố.

    Khi đất dưới hoặc cạnh móng cũ bị dịch chuyển, công trình có thể xuất hiện nứt tường, lún lệch, nghiêng hoặc hư hỏng các bộ phận khác. Ngay cả nhà có tường dày vẫn có thể gặp sự cố nếu nền móng bị mất ổn định.

    Vì vậy, trước khi thi công móng sát công trình hiện hữu, cần khảo sát hiện trạng, lựa chọn biện pháp đào và chống đỡ phù hợp, đồng thời theo dõi các dấu hiệu nứt, lún hoặc chuyển vị trong quá trình thi công.

    Nguy cơ nứt hoặc mất ổn định khi nhà bên cạnh đào móng phụ thuộc chủ yếu vào nền đất, móng và biện pháp thi công, không thể đánh giá chỉ dựa trên việc nhà xây tường 10 hay tường 20.

    Xây hai tường 10 cạnh nhau có bằng một tường 20 không?

    Về tổng bề dày, hai tường 10 có thể gần với một tường 20. Nhưng về cấu tạo, hai phương án không hoàn toàn tương đương.

    Hai tường tách rời có thể:

    • Không liên kết với nhau.

    • Có khe không khí hoặc khe hẹp ở giữa.

    • Thuộc hai hệ móng khác nhau.

    • Lún và dao động độc lập.

    • Có hiệu quả cách âm khác.

    • Khó chống thấm tại khe.

    • Có khả năng truyền âm qua các điểm nối khác.

    Trong một số trường hợp, hai lớp tường tách rời có khe và được thi công đúng kỹ thuật có thể cách âm hoặc cách nhiệt tốt hơn một tường đặc. Ngược lại, một khe hẹp không được chống thấm có thể trở thành nơi giữ nước và gây ẩm kéo dài.

    Do đó, không nên dùng lập luận “nhà bên cạnh đã có tường 10 nên nhà mình chỉ cần tường 10 để ghép thành tường 20” làm căn cứ duy nhất.

    Hai tường 10 xây cạnh nhau không tương đương một tường 20, vì hai phương án có cấu tạo, khả năng liên kết, chống thấm, cách âm và chịu lực khác nhau.

    Xây tường 20 có làm mất diện tích không?

    Có. Tường 20 chiếm nhiều diện tích hơn tường 10. Mức chênh lệch gần bằng phần tăng chiều dày nhân với chiều dài các mảng tường.

    Ví dụ, một mảng tường dài 10 m tăng từ khoảng 110 mm lên khoảng 220 mm sẽ chiếm thêm khoảng:

    10 m × 0,11 m = 1,1 m² mặt bằng.

    (*Lưu ý: Đây là phép tính minh họa theo chênh lệch chiều dày giả định 110 mm; diện tích thực tế phải tính theo kích thước tường trên bản vẽ.)

    Nếu ngôi nhà có nhiều vách dày, tổng diện tích bị chiếm có thể lớn hơn. Tuy nhiên, đây là phần diện tích đánh đổi để đạt yêu cầu khác về bao che, cách âm hoặc độ ổn định.

    Không nên vì tiết kiệm diện tích mà giảm toàn bộ tường ngoài xuống tường 10. Ngược lại, cũng không nên xây tất cả vách ngăn bằng tường 20 khi không có nhu cầu.

    Tường 20 chiếm nhiều diện tích hơn tường 10, vì vậy nên sử dụng có chọn lọc ở những vị trí cần tăng khả năng bao che, cách âm hoặc độ ổn định thay vì áp dụng cho toàn bộ ngôi nhà.

    Xây tường 20 có làm mất diện tích khi xin phép sửa nhà không?

    Không có cơ sở để kết luận rằng cứ xây tường 20 thì khi xin phép sửa chữa sẽ tự động bị trừ một phần diện tích. Diện tích, kích thước và ranh giới công trình cần được xác định từ hồ sơ pháp lý, hiện trạng đo đạc và quy định áp dụng tại địa phương.

    Chiều dày tường có thể làm thay đổi diện tích sử dụng bên trong nhà, nhưng đây là vấn đề khác với ranh giới quyền sử dụng đất hoặc diện tích được cơ quan có thẩm quyền xác định trong hồ sơ.

    Khi chuẩn bị cải tạo, gia chủ nên đối chiếu giấy tờ về đất, bản vẽ xây dựng hoặc hoàn công nếu có và kết quả đo hiện trạng. Nếu có chênh lệch hoặc tranh chấp ranh giới, cần làm rõ bằng hồ sơ và đơn vị chuyên môn thay vì suy luận từ việc công trình đang sử dụng tường 10 hay tường 20.

    Tường 20 có thể chiếm nhiều diện tích sử dụng hơn tường 10 nhưng không đồng nghĩa công trình sẽ tự động bị mất diện tích pháp lý khi xin phép sửa chữa.

    Tường 10 và tường 20 cách âm khác nhau thế nào?

    Trong cùng điều kiện vật liệu, tường dày và nặng hơn thường cản âm truyền qua không khí tốt hơn. Tuy nhiên, hiệu quả cách âm thực tế còn phụ thuộc cửa, trần, sàn và các khe hở.

    Một bức tường 20 vẫn có thể cách âm kém nếu:

    • Cửa quá mỏng.

    • Khe quanh khung cửa không kín.

    • Ổ cắm bố trí đối lưng.

    • Hộp kỹ thuật thông nhau.

    • Tường không xây kín đến sàn phía trên.

    • Có khe nứt.

    • Âm thanh truyền vòng qua sàn và trần.

    Nếu cần cách âm tốt, giải pháp hai lớp tường hoặc vách nhiều lớp có khoảng rỗng và vật liệu hấp thụ âm đôi khi hiệu quả hơn việc chỉ tăng từ tường 10 lên tường 20.

    So sánh “tường 20 cách âm tốt hơn tường 10” chỉ có ý nghĩa khi các yếu tố khác tương đối tương đồng. Một hệ tường mỏng được thiết kế cách âm chuyên dụng vẫn có thể đạt hiệu quả cao hơn một bức tường dày nhưng có nhiều khe hở và đường truyền âm phụ.

    Tường 10 và tường 20 chống nóng khác nhau thế nào?

    Tường 20 thường làm chậm quá trình truyền nhiệt hơn tường 10 nếu cùng loại gạch. Nhưng khả năng chống nóng của vỏ nhà không chỉ phụ thuộc độ dày.

    Các yếu tố quan trọng khác gồm:

    • Độ rỗng của gạch.

    • Hệ số dẫn nhiệt.

    • Màu sơn ngoài.

    • Hướng tường.

    • Cường độ nắng.

    • Mái che.

    • Khe không khí.

    • Lớp cách nhiệt.

    • Thông gió.

    • Diện tích cửa kính.

    • Cầu nhiệt tại cột và dầm.

    Với mặt tiền hoặc mặt hướng Tây, thiết kế che nắng thường mang lại hiệu quả rõ hơn việc chỉ tăng thêm một lớp gạch.

    Có nên xây tường hay dùng vách ngăn?

    Nên chọn tường xây khi

    Tường gạch phù hợp với các vị trí cần độ cứng, khả năng chống va đập hoặc treo nhiều thiết bị.

    Có thể cân nhắc khi:

    • Làm tường ngoài.

    • Tường khu vệ sinh.

    • Tường treo tủ bếp.

    • Tường cần độ chắc chắn cao.

    • Khu vực có nguy cơ va chạm.

    • Công trình có yêu cầu riêng về cháy theo thiết kế.

    Nên chọn vách nhẹ khi

    Vách nhẹ phù hợp với nhu cầu giảm tải, thi công nhanh và dễ thay đổi mặt bằng.

    Có thể cân nhắc khi:

    • Ngăn phòng làm việc.

    • Chia phòng trên tầng cao.

    • Cải tạo không muốn tăng tải trọng.

    • Cần đi hệ thống kỹ thuật bên trong vách.

    • Muốn tháo dỡ hoặc thay đổi sau này.

    • Có cấu tạo cách âm nhiều lớp chuyên dụng.

    Vách nhẹ không mặc nhiên yếu hoặc cách âm kém. Chất lượng phụ thuộc loại tấm, khung, số lớp, vật liệu trong khoang và cách xử lý mối nối.

    Tường xây phù hợp với những vị trí cần độ cứng và khả năng chịu va đập, còn vách ngăn nhẹ thích hợp khi muốn giảm tải trọng, thi công nhanh và dễ cải tạo; lựa chọn nên dựa trên công năng và yêu cầu của từng không gian.

    Cách chọn tường 10, tường 20 hay vách nhẹ theo từng vị trí

    Tường có tham gia chịu lực không?

    • Có hoặc chưa xác định: Cần kỹ sư kết cấu tính toán, không tự chọn theo tên tường 10 hay 20.

    • Không: Tiếp tục xem vị trí tường.

    Tường nằm hoàn toàn bên trong nhà?

    • Có: Tường 10 hoặc vách nhẹ thường là lựa chọn đầu tiên.

    • Không: Tiếp tục đánh giá mức độ tiếp xúc thời tiết.

    Tường là mặt ngoài chịu nắng, mưa hoặc tiếng ồn lớn?

    • Có: Cân nhắc tường 20, tường hai lớp hoặc hệ bao che chuyên dụng.

    • Không: Tường 10 có thể phù hợp nếu đáp ứng độ ổn định.

    Tường cần treo tủ, thiết bị hoặc vật nặng?

    • Có: Kiểm tra loại gạch, điểm neo, giằng và phương án gia cường; không chỉ dựa vào chiều dày.

    • Không: Tiếp tục đánh giá yêu cầu cách âm.

    Hai không gian cần cách âm cao?

    • Có: Thiết kế cấu tạo cách âm riêng; tường 20 chưa chắc đã đủ.

    • Không: Tường 10 có thể đáp ứng nhu cầu ngăn chia thông thường.

    Tường được xây trực tiếp trên sàn thay vì trên dầm?

    • Có: Phải kiểm tra tải trọng với kỹ sư trước khi tăng chiều dày.

    • Không: Thi công theo hồ sơ thiết kế.

    Checklist trước khi chốt xây tường 10 hay tường 20

    Trước khi ký hợp đồng hoặc để đội thợ triển khai, gia chủ nên kiểm tra lần lượt:

    • Công trình dùng khung bê tông cốt thép hay tường chịu lực?

    • Từng bức tường có chức năng gì?

    • Loại gạch cụ thể là gạch đặc, gạch rỗng hay blốc?

    • Chiều dày ghi trên bản vẽ là chiều dày xây hay hoàn thiện?

    • Tường có nằm trên dầm hay trực tiếp trên sàn?

    • Tường cao và dài bao nhiêu?

    • Có cửa hoặc ô kỹ thuật lớn không?

    • Tường có chịu nắng, mưa và gió trực tiếp không?

    • Có cần cách âm cao không?

    • Có treo tủ, bình nước hoặc thiết bị nặng không?

    • Đường điện nước đi trong tường như thế nào?

    • Các vị trí cần lanh tô, giằng hoặc gia cường đã được thể hiện trong thiết kế chưa?

    • Tường tiếp giáp cột, dầm được xử lý ra sao?

    • Mặt ngoài có thể trát và chống thấm không?

    • Khe giữa hai nhà sẽ thoát nước như thế nào?

    • Tăng chiều dày có ảnh hưởng diện tích phòng không?

    • Tải trọng tường đã được tính trong kết cấu chưa?

    • Vật liệu và vữa có đúng hồ sơ không?

    • Đội thi công có thực hiện bảo dưỡng không?

    • Bản vẽ hoàn công có ghi rõ chiều dày tường không?

    Những sai lầm thường gặp khi chọn và xây tường

    Sai lầm đầu tiên là yêu cầu toàn bộ ngôi nhà xây tường 20 vì cho rằng càng dày càng chắc. Phương án này có thể làm tăng tải trọng, chi phí và giảm diện tích mà không mang lại lợi ích tương xứng tại các vách ngăn thông thường.

    Sai lầm thứ hai là xây toàn bộ tường 10 để tiết kiệm. Các mặt ngoài chịu mưa, nắng và tiếng ồn có thể cần cấu tạo tốt hơn.

    Sai lầm thứ ba là cho rằng tường 20 đương nhiên chịu lực. Vai trò chịu lực chỉ được xác định qua thiết kế kết cấu.

    Sai lầm thứ tư là nghĩ hai tường 10 của hai nhà liền kề sẽ tự động tạo thành một tường 20 hoàn chỉnh. Hai khối xây riêng có thể lún, nứt và thấm độc lập.

    Sai lầm thứ năm là đổi chiều dày tường ngay trên công trường mà không cập nhật tải trọng. Điều này đặc biệt rủi ro khi tường nằm trên sàn.

    Sai lầm thứ sáu là cắt rãnh điện nước sâu sau khi xây. Rãnh ngang hoặc rãnh lớn có thể làm giảm tiết diện và gây nứt.

    Sai lầm thứ bảy là chỉ tập trung vào gạch mà bỏ qua vữa, lanh tô, giằng và liên kết. Chất lượng tường là kết quả của toàn bộ hệ cấu tạo.

    Sai lầm nữa là chọn chiều dày tường chỉ dựa vào số tầng, chẳng hạn mặc định nhà một tầng dùng tường 10 còn nhà ba tầng phải dùng tường 20. Số tầng chỉ là một phần của bài toán; chức năng của tường, hệ kết cấu, vật liệu, tải trọng và điều kiện tiếp xúc môi trường mới là những yếu tố cần được xem xét đồng thời.

    Sai lầm cuối cùng là không lưu bản vẽ hoàn công. Khi cải tạo, việc không biết chính xác vị trí và chiều dày tường khiến quá trình khảo sát, tháo dỡ và xin phép phức tạp hơn.

    Câu hỏi thường gặp về tường 10 và tường 20

    Tường 10 dày bao nhiêu?

    Tường 10 là cách gọi quen thuộc của nhóm tường có bề dày danh nghĩa khoảng 10 cm. Chiều dày thực tế cần xác định theo loại gạch hoặc viên xây, mạch vữa và lớp hoàn thiện thay vì mặc định một con số giống nhau cho mọi công trình.

    Tường 20 dày bao nhiêu?

    Tường 20 là cách gọi quy ước của nhóm tường có bề dày danh nghĩa khoảng 20 cm. Kích thước sau khi xây và hoàn thiện có thể thay đổi tùy vật liệu và cấu tạo được chỉ định trong thiết kế.

    Nên xây tường 10 hay tường 20?

    Không có một lựa chọn đúng cho mọi vị trí. Tường 10 thường phù hợp với nhiều vách ngăn bên trong, trong khi tường 20 hoặc hệ tường có cấu tạo phù hợp có thể được cân nhắc cho mặt ngoài, khu vực cần tăng độ ổn định, cách âm hoặc khả năng bao che.

    Nhà phố nên xây tường 10 hay tường 20?

    Nhà phố thường nên kết hợp nhiều cấu tạo tường. Vách ngăn bên trong có thể dùng tường 10 hoặc vách nhẹ, còn mặt tiền, mặt ngoài chịu thời tiết và những khu vực có yêu cầu đặc biệt cần được thiết kế theo điều kiện thực tế thay vì mặc định toàn bộ đều dùng tường 20.

    Tường 20 có phải tường chịu lực không?

    Không nhất thiết. Tường 20 có thể là tường chịu lực, tự chịu lực hoặc không chịu lực tùy hệ kết cấu và nhiệm vụ của bức tường. Chức năng chịu lực phải được xác định bằng thiết kế chứ không chỉ dựa vào chiều dày.

    Nhà 2–3 tầng có xây tường 10 được không?

    Có thể sử dụng tường 10 cho nhiều vách không chịu lực trong nhà khung bê tông cốt thép nếu thiết kế cho phép. Không nên suy ra rằng toàn bộ tường của nhà 2–3 tầng đều có thể xây tường 10 hoặc ngược lại phải xây tường 20.

    Tường hướng Tây xây tường 20 có hết nóng không?

    Không. Tường dày hơn có thể thay đổi quá trình truyền và tích nhiệt nhưng không giải quyết toàn bộ vấn đề nắng Tây. Hiệu quả chống nóng nên được tạo từ cả hệ tường, vật liệu cách nhiệt, giải pháp che nắng, màu bề mặt, cửa và thông gió.

    Xây hai tường 10 cạnh nhau có bằng một tường 20 không?

    Không hoàn toàn. Hai tường riêng biệt có thể có khe ở giữa, liên kết và chuyển vị khác nhau nên đặc tính chịu lực, cách âm, cách nhiệt và chống thấm không giống một khối tường 20 được thiết kế thống nhất.

    Tường 10 và tường 20 đều có phạm vi sử dụng phù hợp, không có loại nào tốt hơn trong mọi trường hợp. Tường 10 có lợi thế về diện tích, trọng lượng và lượng vật tư, trong khi tường dày hơn có thể phù hợp với một số vị trí cần tăng độ ổn định, cách âm hoặc khả năng bao che. Khi xây nhà, gia chủ nên xác định chiều dày cho từng bức tường ngay trên hồ sơ thiết kế, đồng thời xem xét loại vật liệu, tải trọng, chống thấm, cách nhiệt và yêu cầu sử dụng thực tế.

    Xem thêm các bài viết chuyên sâu về vật liệu và kỹ thuật xây nhà tại hub Kho kiến thức của Happynest nhé.

    Nếu bạn đang chuẩn bị xây nhà hoặc cải tạo nhưng chưa xác định được từng vị trí nên dùng tường 10, tường 20 hay vách ngăn nhẹ, hãy để lại thông tin trong box bên dưới. Happynest sẽ giúp bạn kết nối với kiến trúc sư hoặc đơn vị thiết kế - thi công phù hợp

    Đức MinhTheo dõi

    • 0
    • 0
    • 0